Hội quán Lệ Châu

Đây là một trong những ngôi nhà được xây dựng sớm nhất tại Sài Gòn. Trong sách Sài Gòn năm xưa, Vương Hồng Sển viết: "Đường Nguyễn Trãi đi một đoạn khỏi đường Tổng Đốc Phương gặp chùa Lệ Châu. Đây là "chùa tổ" thờ tổ sư của nhóm thợ và chủ lò kim hoàn. Sau những người Hoa kiều đồng nghề cũng nhập với đồng nghiệp Việt Nam nên mỗi năm cúng tổ long trọng và oai nghi lắm..." (NXB TP. HCM, 1991, tr. 207)

Khi mới cất xong (1892) công trình có tên tạm là Nhà thờ tổ kim hoàn. Đến năm 1934, ngôi thờ được đại trùng tu (và tồn tại cho đến nay) bằng cột gỗ lim, mái ngói móc lợp theo kiểu âm dương, phía trước đền có bộ cửa sắt bao bọc, trên vòm cửa có thêm bốn chữ: Lệ Châu hội quán bằng đồng và dọc hai bên cửa sắt có câu đối:

Lệ thủy kim sinh cơ quốc thái
Châu đê ngân xuất nghiệp dân an.

Dịch:

Sông Lệ sinh vàng nên quốc thái
Bờ Châu ra bạc nghiệp dân an.

Hiện có hai giả thuyết về cái tên Lệ Châu:

Thứ nhất, tên lấy từ câu: Kim trầm lệ thủy, ngân xuất châu đê, có nghĩa vàng chìm sông lệ, bạc xuất bờ châu.
Do ngoài việc thờ tổ (Cao Đình Độ và Cao Đình Hương), nơi này còn là nơi quy tụ các tay thợ kim hoàn (còn được gọi là thợ bạc), nên ngôi thờ được gọi Lệ Châu hội sở rồi đổi thành Lệ Châu hội quán.

Thứ hai, hội quán lập ra để nhớ ơn ba người họ Trần (ba anh em ruột và đều là học trò của ông Cao Đình Hương) là Trần Hòa, Trần Điện và Trần Điền đã vào vùng Sài Gòn - Chợ Lớn truyền dạy nghề kim hoàn. Sau một thời gian, các ông tiếp tục qua Nam Vang (Campuchia), Lào, Thái Lan tiếp tục việc truyền dạy rồi không trở về nữa. Vì vậy, các thợ bạc Chợ Lớn lấy tên Lệ Châu, với nghĩa là nước mắt để nói lên nỗi mất mát, thương nhớ những người thầy của mình.

Nguồn gốc

Vào những năm cuối thế kỷ 19, tại Chợ Lớn và các vùng lân cận, nghề kim hoàn đã rất phát đạt. Để ghi nhớ ơn tổ và thầy, một số chủ lò kim hoàn, gồm các ông Nguyễn Tường Long, Võ Văn Tường, Huỳnh Văn Tiên, Trần Văn Lập, Cao Đình Huế, Thái Hồng Hưng… đã đứng ra vận động, quyên góp từ các lò kim hoàn, các thợ bạc ở khắp nơi và mua được một khu đất rộng ở đường Thủy Binh (Rue des Marins, nay là đường Trần Hưng Đạo) gần nhà thờ Cha Tam.

Nhà thờ tổ được khởi công vào năm 1892 đến năm 1896 thì hoàn thành. Tính đến nay, ngôi thờ này đã trải qua bốn lần sửa sang, đó là vào các năm 1920, 1934, 1946, 1968. Lần sau cùng, nhà thờ được trung tu lớn: cất lại Nghĩa từ, sửa chữa lại chánh điện do chiến tranh gây hư hại...
Đây là một trong những ngôi nhà được xây dựng sớm nhất tại Sài Gòn. Trong sách Sài Gòn năm xưa, Vương Hồng Sển viết:
"Đường Nguyễn Trãi đi một đoạn khỏi đường Tổng Đốc Phương gặp chùa Lệ Châu. Đây là "chùa tổ" thờ tổ sư của nhóm thợ và chủ lò kim hoàn. Sau những người Hoa kiều đồng nghề cũng nhập với đồng nghiệp Việt Nam nên mỗi năm cúng tổ long trọng và oai nghi lắm..." (NXB TP. HCM, 1991, tr. 207)

Kiến trúc

Chính diện Lê Châu hội quán

Hội quán nằm trên một khu đất rộng 802m2, được xây dựng theo kết cấu ba gian dọc, với hai hàng cột chạy dài từ ngoài vào trong. Tường gạch tô, mái lợp ngói âm dương, trước có sân rộng khoảng 400m2.

Nơi chính điện có ba khám thờ, được trang trí bằng những bao lam chạm trổ rồng, phụng, hoa, điểu... sắc nét công phu. Khám thờ lớn ở giữa có bài vị chạm hai chữ Tổ sư theo lối đại tự, thờ Đệ nhất Tổ sư Cao Đình Độ [Giáp Dần (1774) – Canh Ngọ (1810)] và Đệ nhị Tổ sư Cao Đình Hương [Quý Tỵ (1733) - Tân Tỵ (1821)], hai khám hai bên hơi nhỏ hơn, thờ các vị tổ đời thứ hai, truyền dạy nghề kim hoàn ở Phan Thiết, đó là ba anh em họ Huỳnh: Huỳnh Quang, Huỳnh Bảo, Huỳnh Nhật và thờ các vị tổ đời thứ hai, truyền dạy nghề kim hoàn ở Chợ Lớn đó là ba anh em họ Trần: Trần Hòa, Trần Điện và Trần Điền.

Toàn hội quán có 9 bức hoành phi và 6 cặp câu đối đều được sơn son thiếp vàng, mang nội dung nói lên lòng nhớ ơn tổ và ca ngợi sự phát triển, thịnh đạt của nghề thợ bạc, như câu Bản thủy sơn tiên, Nghệ truyền nguyên phái v.v...
Điều đáng chú ý là các khám thờ, hoành phi, câu đối, bao lam... đều được sơn son thếp vàng. Nhờ loại giấy quì có độ tuổi vàng cao, cho nên dù đã trải qua nhiều năm tháng, đến nay tất cả vẫn còn bóng láng và rõ nét.

Ngoài ra, còn những hiện vật quí, như:
•    Trống lớn có chiều cao 1,10m, đường kính 0,60m, tang trống không phải bằng những mảnh gỗ ghép, mà là một khúc cây to khoét rỗng.
•    Chuông cao 1m, đường kính 0,50m, trên chuông để niên đại do thợ Hà Nội chế tác năm Ât Mùi (1895).
•    Bốn tấm bia đá đặt hai bên vách chánh điện, ghi rõ các năm tạo dựng: 1895, 1916, 1920. Trên bia khắc họ tên họ, nơi ở, số tiền đóng góp để xây dựng nhà thờ tổ. Nhờ những tấm bia này, mà ta được biết vào thời buổi ấy, nghề kim hoàn của người Việt và người Việt gốc Hoa đã có mặt ở nhiều nơi như: Tây Cống, Đề Ngạn [2]Trà Vinh, Bến Tre, Cần Thơ...
•    Một số bàn, bình phong chạm khắc tinh xảo, mô tả cảnh sơn thủy, do những người làm nghề thợ bạc dâng tặng.
Năm 1998, Ban quản trị hội quán ra từ đường họ Kim Hoàn ở Huế rước hai bản sao sắc phong thần do vua Khải Định và vua Bảo Đại đã ban cho hai vị tổ.

Giá trị

Ngoài giá trị về kiến trúc, về cổ vật, Lệ Châu hội quán còn thể hiện nhiều giá trị khác: Hội quán là nơi để những người theo nghề thợ bạc, tỏ lòng biết ơn đối với người đã có công truyền dạy nghề.

Là nơi hằng năm, vào 3 ngày lễ giỗ tổ, hàng ngàn người trong ngành kim hoàn, ở Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thuộc Nam Bộ đã đến, để cúng bái và chia sẻ những tâm tư và nghề nghiệp…

Là trụ sở của “Hội Lệ Cộng hòa tương tế ái hữu thợ bạc” ngay từ năm 1936, rồi là trụ sở bí mật của Nghiệp đoàn thợ bạc cứu quốc, là cơ sở của Ban kinh tài và là nơi nuôi giấu cán bộ cách mạng.

Do những giá trị trên, vào ngày 31 tháng 8 năm 1998, Lệ Châu hội quán đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia, theo quyết định số 1811/1998 - QĐ-BVHTT.

Nguồn: http://vi.wikipedia.org